UBMTTQVN Thành phố Đông Hà

http://ubmtdongha.quangtri.gov.vn


TỐT ĐỜI - ĐẸP ĐẠO

Thời gian qua trên mạng internet nhất là mạng xã hội có rất nhiều người mượn danh nghĩa các tổ chức và cá nhân tuyên truyền cho rằng “ Việt Nam không có tự do tôn giáo” “ Nhà nước Việt Nam đàn áp và can thiệp vào nội bộ các tôn giáo” thật sự có việc này hay không chúng ta hãy phân tích xem xét một cách khách quan về các phương diện để đánh giá bản chất của vấn đề.
A
Thứ nhất: Xét về phương diện khoa học nhận thức
Trước hết nên hiểu rỏ bản chất của tôn giáo là gì? Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội hình thành nhờ vào đức tin, sự sùng bái thượng đế và đức thánh thần thiêng liêng được tổ chức tương đối quy củ, có địa điểm biểu trưng và nghi thức…như vậy ngoài vấn đề thuộc về tín ngưỡng thì tôn giáo là một thực thể xã hội, một tổ chức có tính vật chất của một cộng đồng. Do đó, dù ở bất kỳ một quốc gia nào thì tôn giáo cũng phải chịu sự quản lý nhà nước của quốc gia đó, điều đó có nghĩa khi chưa được nhà nước cộng nhận thì có nghĩa tôn giáo đó chưa có tư cách pháp nhân. Nếu khi đã được nhà nước công nhận thì tất yếu mọi hoạt động của tôn giáo phải đặt dưới sự quản lý và tuân thủ pháp luật về hoạt động của mình. Mặt khác hoạt động của các tôn giáo không chỉ đơn thuần giải quyết nhu cầu tin thần của các chức sắc, tín đồ mà còn liên quan đến nhiều vấn đề khác của đời sống xã hội chẳng hạn như khi cho xây dựng cơ sở thờ tự thì liên quan đến vấn đề đất đai, quy hoạch; khi phát hành kinh sách thì liên quan đến hoạt động xuất bản, văn hóa….và nhiều hoạt động khác đều liên quan đến các mặt của đời sống xã hội cho nên tất yếu phải tuân thủ sự quản lý của nhà nước.
Ở Việt Nam cũng vậy trong mối quan hệ giữa giáo hội và nhà nước cũng phải khẳng định mọi chức sắc, tín đồ cũng là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ tổ quốc sống và làm việc theo Hiến Pháp và Pháp luật quy định.
Thứ hai: Về phương diện cơ sở pháp lý
Luật pháp quốc tế và nhiều quốc gia trên thế giới đều quy định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền cơ bản của công dân nhưng phải chịu sư điều chỉnh của nhà nước. Điều 18 của Công ước quốc tế quy định: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do bày tỏ hoặc tín ngưỡng chỉ có thể giới hạn bởi những quy định của pháp luật và những giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng…như vậy tự do không có nghĩa là tùy tiện thích làm gì thì làm, mà tự do đích thực là phải làm theo những điều đã được pháp luật quy định.
Ở nước ta, quản lý nhà nước về tôn giáo đã được hình thành từ triều đại phong kiến bắt đầu từ Bộ quốc triều hình luật- Luật Hồng Đức và đến Hiến Pháp năm 1946 thì điều này lại càng khẳng định cho cơ sở pháp lý về thực hiện chính sách tông giáo. Năm 2013 một lần nữa Hiến Pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam lại khẳng định “ mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng , tôn giáo, không ai được xam phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Bên cạnh những quy định của nhà nước về tôn giáo thì ngay trong giáo lý, giáo luật của tôn giáo cũng nêu rỏ vai trò của nhà nước và pháp luật đối với cộng đồng như trong sách Thánh Vịnh ( thi thiên một tập thuộc bộ cửu ước kinh thánh của Công giáo) có viết: Mọi người hãy tuân phục nhà chức trách thi hành quyền bính, vì quyền bính có được là do thiên chúa và nhà cầm quyền cắt đặt, vì thế ai chống lại quyền bính là chống lại trật tự do thiên chúa muốn và kẻ chống báng sẽ chuốc lấy án phạt cho mình. Hay ở trong thư chung của Hội đồng giám mục Việt Nam năm 1980 nêu rõ: Phải hiểu biết đường lối chính sách và pháp luật của Nhà nước, tích cực cùng đồng bào toàn quốc góp phần bảo vệ và xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, tự do, hạnh phúc.
Thứ ba: Về phương diện thực tiển.
Từ phương diện khoa học và văn bản pháp luật trên ta có thể khẳng định quyền tự do tín ngưỡng ở Việt Nam được Đảng, Nhà nước ta thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Quản lý nhà nước về tôn giáo là để bảo vệ và đảm bảo cho sự phát triển hợp pháp phù hợp với lợi ích của dân tộc và tôn giáo, thực tế cho thấy chính sách tôn giáo đúng đắn của Việt Nam đã làm thay đổi căn bản đời sống tôn giáo ở nước ta. Theo số liệu thống kê trước năm 1986 Việt nam chỉ có 03 tổ chức tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân thì đến nay đã có 37 tổ chức và một pháp môn với khoảng 25 triệu tín đồ, hơn 24.000 cơ sở thờ tự và 15 tờ báo, tạp chí của tôn giáo. Những con số đó cho ta thấy tôn giáo ở Việt Nam có sự phát triển, đời sống vật chất và tin thần của công đồng tôn giáo ngày càng được nâng cao.
Bên cạnh những sự quan tâm về chính sách trong những năm qua Việt Nam cũng là nước đứng ra tổ chức các hoạt động tôn giáo quốc tế được cộng đồng thế giới hoan nghênh như: Đại hội phật đản VESAK năm 2014; lễ khia mạc năm thánh; lễ kỉ niệm 100 năm ngày Tin lành đến Việt nam hay Hội nghị nữ giới phật giáo lần thứ XI….Những thành tựu về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là bằng chứng về tôn trong và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng ở nước ta. Chính vì vậy các tổ chức tôn giáo tin tưởng vào chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước để cùng nhau xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, hướng tới mục tiêu tốt đời đẹp đạo, xây dựng đất nước ngày càng phát triển, xã hội văn minh.
Từ những phương diện trên một lần nữa chúng ta khẳng định các luận điệu cho rằng “Việt Nam không có tự do tôn giáo” “ Nhà nước Việt Nam đàn áp và can thiệp vào nội bộ các tôn giáo” là hành vi hoàn toàn sai trái, vu cáo. Chúng ta là một người dân đất việt dù theo hoặc không theo một tôn giáo nào cũng phải biết ý thức, trách nhiệm trong việc xây dựng đất nước để xứng đáng những gì mà cha ông ta để lại và thể hiện mình là người Việt Nam và chỉ có Việt Nam mà thôi.
                                  Trang GÀ BÁO THỨC 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây